Phát triển kinh tế số trong nông nghiệp không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, đa dạng hóa kênh tiêu thụ mà còn thúc đẩy người dân đổi mới tư duy sản xuất, kinh doanh theo hướng hiện đại; tăng cường xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, bảo đảm chất lượng và an toàn sản phẩm. Qua đó, góp phần nâng cao giá trị nông sản, đặc sản Nghệ An, phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững và đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
I. Thực trạng phát triển kinh tế số trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Nghệ An là tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, có diện tích tự nhiên gần 16.500 km², trong đó diện tích đất nông nghiệp gần 1,5 triệu ha với 130 đơn vị hành chính cấp xã. Với quy mô diện tích lớn, điều kiện tự nhiên đa dạng cùng tiềm năng phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản phong phú, Nghệ An có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế số trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Trong những năm qua, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu và suy giảm kinh tế, ngành Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An vẫn đạt được nhiều kết quả tích cực, từng bước khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tổng sản phẩm GRDP ngành nông, lâm, ngư nghiệp năm 2025 ước đạt 49.432 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng GRDP đạt khoảng 2,66%. Cơ cấu nội ngành chuyển dịch đúng hướng với tỷ trọng nông nghiệp chiếm 76,24%, lâm nghiệp chiếm 7,25% và thủy sản chiếm 16,49%. Bên cạnh đó, tỷ lệ che phủ rừng đạt 59,01%; tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 90,5%; tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý đạt 100%; góp phần nâng cao đời sống người dân nông thôn và đảm bảo an sinh xã hội.
Thực hiện chủ trương chuyển đổi số quốc gia, ngành Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An đã chủ động đổi mới tư duy, từng bước đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số vào quản lý, điều hành và tổ chức sản xuất. Ngành đã triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chương trình chuyển đổi số của Trung ương và của tỉnh, đặc biệt là Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 05/8/2022 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An về chuyển đổi số. Trên cơ sở đó, nhiều kế hoạch chuyển đổi số theo giai đoạn và hằng năm đã được ban hành và triển khai đồng bộ.
Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về chuyển đổi số được chú trọng; cán bộ, công chức, viên chức và các chủ thể sản xuất từng bước tiếp cận, ứng dụng hiệu quả công nghệ số trong hoạt động quản lý và sản xuất. Ngành đã vận hành hiệu quả các hệ thống dùng chung của Chính phủ và của tỉnh; hướng dẫn người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến; triển khai làm giàu, làm sạch cơ sở dữ liệu đất đai và xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành nông nghiệp và môi trường.
Song song với đó, nhiều đề án, dự án ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số đã được triển khai hiệu quả như: mô hình trồng bưởi bản địa Cát Ngạn tại huyện Thanh Chương; mô hình chăn nuôi bò đực sữa hướng thịt; trồng Ba kích tím và Cát Sâm dưới tán rừng tại vùng đệm Vườn quốc gia Pù Mát; mô hình giống lúa đa gen kháng bệnh bạc lá; trồng dưa chuột hữu cơ ứng dụng công nghệ tưới tự động; trồng Tía tô theo tiêu chuẩn VietGAP ứng dụng công nghệ Blockchain; chăn nuôi gà thương phẩm theo tiêu chuẩn VietGAHP ứng dụng Blockchain; mô hình nuôi cá lóc tuần hoàn nước khép kín; trồng nho ứng dụng tưới nhỏ giọt theo tiêu chuẩn VietGAP… Các mô hình này đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và từng bước hình thành nền nông nghiệp thông minh trên địa bàn tỉnh.
Đến hết năm 2025, tổng diện tích sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh đạt 40.769 ha, tăng 1.122 ha so với năm 2024, chiếm khoảng 13,37% diện tích sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh. Trong lĩnh vực trồng trọt, diện tích ứng dụng công nghệ cao đạt trên 32.091 ha với nhiều công nghệ tiên tiến như tưới nhỏ giọt, tưới phun, nhà màng, nhà lưới, canh tác VietGAP, Organic và cơ giới hóa đồng bộ. Diện tích lúa ứng dụng công nghệ cao đạt hơn 21.516 ha; rau củ quả đạt trên 2.704 ha; cây ăn quả hơn 833 ha; cây chè và mía hơn 7.036 ha; hệ thống tưới hiện đại được áp dụng trên 5.363 ha.

Lãnh đạo UBND tỉnh, Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường thăm mô hình trồng cam
Trong lĩnh vực chăn nuôi, nhiều doanh nghiệp và trang trại lớn đã áp dụng công nghệ chăn nuôi hiện đại như chuồng lạnh khép kín, hệ thống cho ăn tự động, kiểm soát nhiệt độ và sức khỏe vật nuôi bằng công nghệ số. Tổng đàn bò sữa gần 80.000 con, tập trung chủ yếu tại các trang trại của Tập đoàn TH và Vinamilk. Chăn nuôi lợn và gia cầm cũng từng bước áp dụng quy trình VietGAP và công nghệ tự động hóa.
Lĩnh vực thủy sản có nhiều chuyển biến tích cực với việc ứng dụng công nghệ sinh học, nuôi tuần hoàn và nuôi nhiều giai đoạn. Toàn tỉnh hiện có 106 cơ sở áp dụng mô hình nuôi tôm công nghệ cao với diện tích hơn 206 ha; năng suất đạt từ 15–20 tấn/ha/vụ. Trong lĩnh vực lâm nghiệp, tỉnh đã triển khai ứng dụng công nghệ trong sản xuất giống cây lâm nghiệp, trồng dược liệu quý và chế biến gỗ tại nhiều địa phương.
Kinh tế tập thể và chương trình OCOP tiếp tục phát triển mạnh. Toàn tỉnh hiện có 730 hợp tác xã nông nghiệp, đứng thứ 5 cả nước; trong đó có 101 hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao và 123 hợp tác xã có sản phẩm OCOP. Tỉnh hiện có 588 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên và 190 làng nghề được công nhận, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn gắn với chuyển đổi số và thương mại điện tử.
Việc ứng dụng khoa học công nghệ và công nghệ số vào sản xuất nông nghiệp đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, với giá trị sản xuất bình quân đạt trên 250 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 2–3 lần so với sản xuất truyền thống. Đồng thời, ngành Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An cũng chú trọng đào tạo kỹ năng số cho người dân thông qua các lớp tập huấn về thương mại điện tử, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất.
Hạ tầng số khu vực nông thôn tiếp tục được cải thiện đáng kể. Đến nay, 100% xã trên địa bàn tỉnh đã được phủ sóng Internet băng rộng; 95% dân số được tiếp cận Internet di động. Một số địa phương đã triển khai thí điểm mô hình chuyển đổi số cấp xã và đầu tư hạ tầng số phục vụ xây dựng nông thôn mới thông minh, góp phần tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế số trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong thời gian tới.
II. Rào cản trong phát triển kinh tế số lĩnh vực nông nghiệp và môi trường tỉnh Nghệ An
Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong chuyển đổi số và phát triển kinh tế số, ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai. Sản xuất nông nghiệp vẫn còn theo quy mô hộ nhỏ lẻ, manh mún, việc tích tụ đất đai và hình thành vùng sản xuất tập trung còn hạn chế; liên kết giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa chặt chẽ, chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ chưa bền vững, dẫn đến chi phí sản xuất cao, chất lượng sản phẩm chưa đồng đều và khó xây dựng thương hiệu có sức cạnh tranh.
Việc ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số trong sản xuất còn thiếu nguồn lực đầu tư, trong khi khả năng tài chính, trình độ công nghệ và kỹ năng số của nhiều hộ sản xuất, hợp tác xã còn hạn chế. Hạ tầng số ở một số khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa chưa đồng bộ; việc khai thác thương mại điện tử, dữ liệu số và các nền tảng số trong tiêu thụ nông sản chưa hiệu quả.
Nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số còn thiếu về số lượng và chất lượng, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia, kỹ thuật viên và cán bộ có chuyên môn về công nghệ số. Công tác xây dựng, chuẩn hóa và cập nhật cơ sở dữ liệu ngành còn phân tán, thiếu đồng bộ do hạn chế về nhân lực và kinh phí. Bên cạnh đó, công tác bảo vệ môi trường nông thôn, xử lý chất thải, thu gom rác thải và bao bì thuốc bảo vệ thực vật ở một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu.
Ngoài ra, ngành còn chịu tác động ngày càng lớn của thiên tai và biến đổi khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất, hạ tầng và quá trình chuyển đổi số. Thị trường tiêu thụ nông sản chưa ổn định, công nghiệp chế biến sâu và xây dựng thương hiệu còn hạn chế, trong khi việc thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao và kinh tế số gặp nhiều khó khăn do nhu cầu vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài và rủi ro cao. Những hạn chế trên đòi hỏi cần có các giải pháp đồng bộ về cơ chế, hạ tầng, nguồn nhân lực và thu hút đầu tư để thúc đẩy phát triển kinh tế số trong ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An theo hướng hiện đại, bền vững.
III. Giải pháp phát triển kinh tế số lĩnh vực nông nghiệp và môi trường trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2030
Để thúc đẩy phát triển kinh tế số trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế - xã hội, tỉnh Nghệ An cần tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trọng tâm gắn với điều kiện thực tiễn của địa phương, phù hợp định hướng chuyển đổi số quốc gia và xu thế phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
1. Phát triển hạ tầng số đồng bộ, hiện đại
Tiếp tục đầu tư hoàn thiện hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin theo hướng hiện đại, đồng bộ, bảo đảm phục vụ hiệu quả nhu cầu phát triển kinh tế số, xã hội số và chính quyền số. Đẩy nhanh lộ trình phủ sóng mạng 5G trên phạm vi toàn tỉnh, ưu tiên các khu đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và trung tâm thương mại. Mở rộng hạ tầng cáp quang đến 100% thôn, bản, đặc biệt tại các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa nhằm thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng miền.
Tỉnh cần triển khai Trung tâm dữ liệu (Data Center) cấp tỉnh và từng bước hình thành nền tảng điện toán đám mây dùng chung phục vụ công tác quản lý, điều hành và cung cấp dịch vụ số. Đồng thời đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ số như Internet vạn vật (IoT), cảm biến môi trường, hệ thống giám sát nông nghiệp, quản lý nước tưới thông minh, cảnh báo thiên tai, giám sát tài nguyên môi trường và giao thông thông minh.
2. Phát triển chính quyền số và dữ liệu số
Đẩy mạnh chuyển đổi từ mô hình “quản lý hành chính” sang “quản trị số”, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Tập trung hoàn thiện, kết nối và chia sẻ cơ sở dữ liệu dùng chung của tỉnh với các lĩnh vực như: đất đai, dân cư, nông nghiệp, môi trường, doanh nghiệp, y tế, giáo dục và an sinh xã hội nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và các nền tảng phân tích dữ liệu trong dự báo thiên tai, quản lý mùa vụ, giám sát dịch bệnh cây trồng vật nuôi, dự báo thị trường nông sản và hỗ trợ ra quyết định điều hành. Đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình; phấn đấu 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện được số hóa, thanh toán trực tuyến và sử dụng hồ sơ điện tử thay thế hồ sơ giấy.
3. Phát triển nông nghiệp số và nông nghiệp thông minh
Nông nghiệp là lĩnh vực có nhiều tiềm năng và lợi thế của Nghệ An, do đó cần tập trung phát triển nông nghiệp số, nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp thông minh. Khuyến khích xây dựng các vùng sản xuất ứng dụng công nghệ số như IoT, Blockchain, AI, thiết bị bay không người lái (drone), hệ thống tưới tự động, cảm biến giám sát môi trường và truy xuất nguồn gốc điện tử.
Từng bước chuyển đổi từ phương thức sản xuất truyền thống sang sản xuất dựa trên dữ liệu và quản lý bằng nền tảng số nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông sản. Hỗ trợ các hợp tác xã, doanh nghiệp và hộ sản xuất đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử; xây dựng “bản đồ số nông nghiệp” phục vụ quản lý vùng trồng, mã số vùng sản xuất và truy xuất nguồn gốc.
4. Phát triển kinh tế xanh gắn với kinh tế số
Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế số với tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong giám sát môi trường, quản lý tài nguyên rừng, quản lý chất thải và kiểm soát phát thải khí nhà kính. Khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn và các mô hình sản xuất thân thiện với môi trường.
5. Phát triển đô thị thông minh và bảo đảm an toàn an ninh mạng
Từng bước xây dựng đô thị thông minh thông qua việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý giao thông, chiếu sáng, cấp thoát nước, y tế, giáo dục, du lịch và an ninh trật tự. Đồng thời, chú trọng bảo đảm an toàn, an ninh mạng; tăng cường bảo vệ dữ liệu cá nhân, dữ liệu doanh nghiệp và các hệ thống thông tin quan trọng của tỉnh.
6. Thu hút doanh nghiệp công nghệ số và phát triển nguồn nhân lực số
Ban hành các cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm thu hút doanh nghiệp công nghệ số, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đầu tư vào Nghệ An, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, phần mềm, AI, dữ liệu số và nông nghiệp công nghệ cao. Khuyến khích doanh nghiệp đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản trị.
Bên cạnh đó, cần tập trung phát triển nguồn nhân lực số, nâng cao kỹ năng số cho cán bộ, công chức, doanh nghiệp và người dân; chú trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng và nông nghiệp thông minh nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số trong giai đoạn mới.
Nguồn tin: Đậu Hoàn - VP Sở